Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa trên huyện đảo Lý Sơn

Sáng 12.4, (16.3 âm lịch) tại Đình làng An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, các tộc họ trên đảo Lý Sơn đã tổ chức Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa nhằm tri ân những người đã đi cắm mốc lãnh thổ và bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.

Trong lễ khao lề, Ban tế tự đình làng tổ chức lễ tế thần vào đêm trước và tổ chức lễ cầu an cho vong linh các chiến sĩ đội Hoàng Sa. Tại lễ chính tổ chức ngoài sân đình do các tộc họ thực hiện, Ban tổ chức lễ làm 5 mô hình thuyền câu, 3 ban thờ, các phẩm vật tế lễ, bài vị của các Cai đội Hoàng Sa và những binh lính trong đội, bài vị của các vị thần cai quản biển cả. Sau đó, thầy pháp thực hiện các nghi thức bắt ấn trừ tà, làm phép để an vị vong linh các chiến sỹ Hoàng Sa.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa không chỉ là một di sản văn hóa phi vật thể hết sức quý giá, góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, thông qua lễ khao lề nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, giáo dục truyền thống yêu nước, tự tôn dân tộc và các giá trị nhân văn sâu sắc đến mọi tầng lớp nhân dân.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được các tộc họ trên đảo Lý Sơn tổ chức hàng năm
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được các tộc họ trên đảo Lý Sơn tổ chức hàng năm
Thuyền câu và những hình nhân thế mạng được mô phỏng trong nghi thức lễ
Thuyền câu và những hình nhân thế mạng được mô phỏng trong nghi thức lễ
Linh vị của những binh phu anh dũng hy sinh quên mình vì Tổ quốc. Thuyền câu, những hình nhân thế mạng và các linh vị là những vật dụng không thể thiếu được trong lễ khai lề thế lính Hoàng Sa, nhằm tái hiện nghi lễ tiễn đưa những hùng binh Hoàng Sa năm xưa năm xưa vâng lệnh triều đình dong thuyền ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cắm mốc, dựng bia khẳng định chủ quyền của Việt Nam.
Linh vị của những binh phu anh dũng hy sinh quên mình vì Tổ quốc. Thuyền câu, những hình nhân thế mạng và các linh vị là những vật dụng không thể thiếu được trong lễ khai lề thế lính Hoàng Sa, nhằm tái hiện nghi lễ tiễn đưa những hùng binh Hoàng Sa năm xưa năm xưa vâng lệnh triều đình dong thuyền ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cắm mốc, dựng bia khẳng định chủ quyền của Việt Nam.
Hòa lẫn trong tiếng trống chiêng rộn vang, tiếng ốc u oai hùng vang lên trong bài văn tế đội hùng binh: Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về/ Hoàng Sa mây nước bốn bề/ Tháng ba kheo lề thế lính Hoàng Sa…Tiếng ốc u là hiệu lệnh quyền uy của người chỉ huy các chiến thuyền trên biển, đồng thời là hiệu lệnh tiễn đưa người binh phu xuống thuyền đi giữ Hoàng Sa.
Hòa lẫn trong tiếng trống chiêng rộn vang, tiếng ốc u oai hùng vang lên trong bài văn tế đội hùng binh: Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về/ Hoàng Sa mây nước bốn bề/ Tháng ba kheo lề thế lính Hoàng Sa…Tiếng ốc u là hiệu lệnh quyền uy của người chỉ huy các chiến thuyền trên biển, đồng thời là hiệu lệnh tiễn đưa người binh phu xuống thuyền đi giữ Hoàng Sa.
Lễ khao lề năm nay được 13 tộc họ trên đảo tổ chức theo nghi thức dân gian, trong đó điểm nhấn chính là Lễ tế lính Hoàng Sa và thả thuyền câu, ngoài ra còn có lễ nghinh thần, nhập yết đảm bảo các nghi thức theo truyền thống của người dân trên đảo.
Lễ khao lề năm nay được 13 tộc họ trên đảo tổ chức theo nghi thức dân gian, trong đó điểm nhấn chính là Lễ tế lính Hoàng Sa và thả thuyền câu, ngoài ra còn có lễ nghinh thần, nhập yết đảm bảo các nghi thức theo truyền thống của người dân trên đảo.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia nă 2013
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia nă 2013
Mô hình thuyền tượng trưng cùng với các lễ vật, lương thực, thực phẩm mà đội hùng binh năm xưa mang theo khi ra Hoàng Sa được thả xuống biển.
Mô hình thuyền tượng trưng cùng với các lễ vật, lương thực, thực phẩm mà đội hùng binh năm xưa mang theo khi ra Hoàng Sa được thả xuống biển.

Bảo Ngọc

Di sản định cư biển đảo: Nhìn từ Lý Sơn

Lịch sử về vùng đất và con người sinh sống ở đảo Lý Sơn được ghi chép rất rõ. Dưới góc nhìn về di sản định cư, càng cho thấy giá trị to lớn của vùng đất và con người nơi đây.

Chuyên gia nghiên cứu văn hóa Nguyễn Tuấn Lâm nhận định, tài sản vô cùng quý giá mà cư dân sinh sống trên đất đảo Lý Sơn từ ngàn xưa để lại cho đời nay đó là di sản định cư, biểu hiện của nó là một nền văn hóa bản địa vô cùng đặc sắc, một Lý Sơn sừng sững như cột mốc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc giữa Biển Đông.

Âm linh tự ở Lý Sơn. ẢNH: PV
Âm linh tự ở Lý Sơn. ẢNH: PV

Đất lành chim đậu

Lý Sơn cũng là địa bàn cư trú của con người từ rất sớm. Vết tích đầu tiên của con người được tìm thấy trên núi Giếng Tiền. Bằng những khảo sát bước đầu, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được nhiều hiện vật của nền văn hóa thời Tiền sử có niên đại cách ngày nay trên dưới 30 vạn năm, tương đương với văn hóa Núi Đọ ở Thanh Hóa. Việc phát hiện và khai quật hai di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh tại Xóm Ốc, Suối Chình có niên đại khoảng 3000 – 2500 năm tr.CN đã làm rõ bằng chứng về sự cư trú của cư dân thời tiền – sơ sử nơi đây.

Nối tiếp cư dân Sa Huỳnh là cư dân thuộc văn hóa Chăm Pa phát triển từ những năm đầu Công Nguyên. Vết tích văn hóa vật chất của họ được tìm thấy qua các vết tích thuộc tầng văn hóa lớp trên của 2 di chỉ Xóm Ốc, Suối Chình và hàng loạt các di tích lịch sử – văn hóa khác như đền thờ Thiên Y A Na, miếu bò Nadin, các giếng cổ…

Kế tiếp nền văn hóa Chăm Pa là văn hóa Việt, xuất hiện từ những năm cuối của thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII khi một bộ phận cư dân Việt ven biển Bình Châu – Bình Sơn, Sơn Tịnh ra khai khẩn đất đai, lập làng mạc trên đảo. Trải qua quá trình sinh tụ lâu dài, từ thế hệ này qua thế hệ khác lao động sản xuất, bảo vệ chủ quyền biển, đảo… đã tạo nên những sắc màu văn hóa vừa độc đáo vừa đa dạng của riêng Lý Sơn.

Nền văn hóa đó đã được thể hiện qua một quần thể di tích văn hóa-lịch sử phong phú trên mảnh đất này. Với diện tích khoảng 10km2, huyện đảo Lý Sơn sở hữu đến 56 di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh. Tính trung bình, có tới hơn 5 di tích trên một cây số vuông. Đây là nơi có sự phân bố di tích dày đặc mà hiếm nơi nào có được.

Sự hòa quyện của văn hóa

Chuyên gia nghiên cứu Nguyễn Tuấn Lâm cho biết, chứng cứ của di sản định cư là lịch sử làng xã, đền thờ, các truyền thuyết và câu chuyện về các nhân vật lịch sử; kiến trúc cổ… chứng tỏ con người từng tồn tại và phát triển. Người Việt sinh sống trên đảo Lý Sơn đã xác lập một nền tảng văn hóa vững chãi với thiết chế làng xã bền chặt dựa trên một hương ước được mọi thành viên trong làng thống nhất xây dựng và thực hiện rất quy củ và có hiệu quả.

Tuy sự xuất hiện của văn hóa Việt là hơi muộn, nhưng nó đã phát triển thịnh vượng và dung hòa được các nền văn hóa trước đó, quyện lại làm một và bám sâu vào trong mọi tầng lớp cư dân trên đảo. Văn hóa Việt ở đảo Lý Sơn hình thành từ hai nguồn cơ bản là văn hóa Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ (phản ánh qua các kiến trúc đình làng) và văn hóa biển-hải đảo của miền Trung (thể hiện qua tổ chức vạn, xóm) cùng phát triển song song, giao thoa và bổ sung, quyện chặt thành một nét văn hóa truyền thống của đảo. Mỗi dạng thức văn hóa đều xuất phát từ nền kinh tế truyền thống tương hỗ lẫn nhau, đó là kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu và kinh tế biển.

Kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu được thiết lập quần cư theo mô hình làng, đứng đầu là ông Cả làng, nơi sinh hoạt cộng đồng và tế tự là đình làng. Kinh tế khai thác biển được thiết lập trên cơ sở tổ chức vạn, đứng đầu là Chủ vạn, nơi sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng là các lăng vạn. Đảo Lý Sơn có hai làng là An Vĩnh và An Hải; hai vạn là Vĩnh Thạnh và An Phú.

Qua đình làng trên đảo Lý Sơn, không những cho ta thấy được giá trị về mặt kiến trúc văn hóa đình làng, mà thông qua đó phản ánh được lịch sử hình thành vùng đất Lý Sơn và là những bằng chứng khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam, tiêu biểu nhất qua các tế lễ, đặc biệt là Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa diễn ra ở đình làng…

Với sự xuất hiện sớm cùng các loại hình lao động, sản xuất gắn liền với biển, văn hóa phi vật thể ở đây đa dạng, phong phú và có vai trò rất quan trọng đối với đời sống tâm linh của cư dân trên đảo. Để trở thành người chủ thật sự của biển đảo, cư dân trên đất đảo Lý Sơn đã không ngừng lao động sáng tạo, ứng xử thông minh với môi trường, với biển cả để tồn tại và phát triển, giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

NGUYỄN LÂM-MINH ANH

Hơn 14 tỉ đồng khôi phục 2 bộ xương cá Ông ở Lý Sơn

Việc khôi phục xương cá voi và xây dựng nhà trưng bày nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân đất đảo Lý Sơn.

Lăng Tân, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn. Nơi đây, sẽ được xây dựng nhà trưng bày và hai bộ xương cá Ông trong lăng sẽ được khôi phục đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và du lịch. Ảnh: VÕ QUÝ
Lăng Tân, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn. Nơi đây, sẽ được xây dựng nhà trưng bày và hai bộ xương cá Ông trong lăng sẽ được khôi phục đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và du lịch. Ảnh: VÕ QUÝ

Ngày 21-2, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trần Ngọc Căng quyết định giao cho UBND huyện đảo Lý Sơn từ năm 2018 -2020 làm chủ đầu tư thực hiện dự án xây dựng nhà trưng bày và khôi phục hai bộ xương cá voi ở lăng Tân, xã An Vĩnh huyện đảo Lý Sơn. Nguồn vốn thực hiện dự án này là 14 tỉ 100 triệu đồng do tỉnh cấp.

Việc khôi phục xương cá voi khá lớn và dài hơn vài chục mét cùng với xây dựng nhà trưng bày nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân đất đảo. Đồng thời cũng đáp ứng cho việc tham quan, du lịch.

Được biết ngư dân đất đảo Lý Sơn cũng như nhiều vùng biển khác ở miền Trung thường kính cẩn gọi cá voi là cá Ông. Từ xa xưa, khi ngư dân đi thuyền bầu, ghe nan ra biển gặp bão tố, nhiều người đã được Ông cứu. Khi ông lụy (chết tấp vào bờ), ngư dân đem táng sau đó lập lăng để xương cốt cá Ông và hằng năm đều tổ chức cúng bái.

VÕ QUÝ

‘Ông đồ Hoàng Sa’ duy nhất ở huyện đảo Lý Sơn

Trước khi trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 85, nghệ nhân Võ Hiển Đạt (huyện đảo Lý Sơn) vẫn đau đáu sưu tầm tư liệu, góp phần bảo tồn quần thể di tích Hải đội Hoàng Sa cho đời sau.

Các bậc cao niên ở huyện đảo Lý Sơn từng ví ông Võ Hiển Đạt là “bảo tàng sống” trên quê hương Hải đội Hoàng Sa. Ngoài vốn chữ Hán uyên thâm, ông còn phát hiện nhiều chứng cứ về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam.

Mô hình thuyền rồng trong Lễ khao lề Hoàng Sa thuở xưa được ông Đạt sưu tầm ghi chép, vẽ lại tỉ mỉ lưu lại cho đời sau.

Khinh thuyền Hoàng Sa được ông Đồ phục dựng giống nguyên mẫu thuở trước giới thiệu khách tham quan ở huyện đảo Lý Sơn.

Những lúc thư nhàn, ông phiên dịch rồi viết tay cả cuốn Kinh Thi, tự soạn “Gia lễ tổng hợp” (liễn đối, hoành phi, tang tế, hôn lễ..) dày hơn 500 trang. Nhiều câu liễn đối có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tri ân đội hùng binh Hoàng Sa của ông được các tộc họ mời chạm khắc trên đình làng, nhà thờ họ như là “thông điệp” gửi lại đời sau.

Mỗi dịp Tết đến, xuân về, người dân huyện đảo Lý Sơn hay đến nhà ông xin chữ đầu năm cầu may tài, lộc may mắn.

Ông Võ Văn Út, hậu duệ đời thứ 4 của Cai đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết ở thôn Tây, xã An Vĩnh, bộc bạch từ lâu, người dân trên đảo kính mến ông Đạt như người thầy, người cha. Ông có công rất lớn trong việc tu sửa, khôi phục, gìn giữ di tích của Hải đội Hoàng Sa trên đất đảo suốt nhiều năm qua.

Phía sau cụm tượng đài Hải đội Hoàng Sa ở huyện đảo Lý Sơn, là biểu tượng hai cánh buồm vươn cao được ông Đạt chạm khắc tinh xảo với dòng chữ: “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu” (nghĩa là Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa được xem là đặc biệt quan trọng) – Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, 1836.

Nhiều năm là thành viên trong Ban khánh tiết lo hương khói, trông nom di tích Âm Linh Tự, hơn ai hết ông Đạt am tường nhiều tư liệu quý, sử sách ghi chép công lao của bậc tiền nhân ra biển đông từ rất sớm để đo đạc hải trình, cắm cột mốc khẳng định chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Tháng 2/2016, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm huyện đảo tiền tiêu Lý Sơn, trong đó có di tích Âm Linh Tự. Ông Đạt trải lòng về biển và câu chuyện liên tiếp bốn thế kỷ, nhiều thế hệ binh phu đảo Lý Sơn vâng mệnh triều đình dong thuyền ra Hoàng Sa thực thi nhiệm vụ. Hôm đó, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sau khi thắp nén nhang kính cẩn đã khoanh tay, lắng nghe nỗi lòng đau đáu khôn nguôi của ông Đạt về chủ quyền biển đảo Tổ quốc.

Từ năm 1990 đến nay, ông Đạt đã phục dựng nhiều khinh thuyền Hoàng Sa phục vụ Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cho các tộc họ trưng bày tại Bảo tàng Quảng Ngãi và ở Bảo tàng Hải đội Hoàng Sa. Năm 2016, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận nghệ nhân văn hóa dân gian ghi nhận ông Đạt đã dành trọn đời mình vì tình yêu biển đảo, góp phần to lớn bảo tồn di tích Hải đội Hoàng Sa.


Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tháng 3 âm lịch năm trước, người dân Lý Sơn và du khách vẫn còn lưu nhớ mãi bài văn tế của cụ Đạt: “Hỡi ơi, đất nước Việt Nam trải bao phen lao khổ. Nghĩ đến kẻ điêu linh từ thuở nọ. Chi hay sinh kề ký tử hề quy, ra đi có mấy người trở lại… Xả thân vì Tổ quốc, son sắt một lòng, ngang dọc chí nam nhi. Phong ba dồn dập, tuyết sương chẳng quản, mưa nắng chẳng sờn, Hoàng Sa lãnh hải biển cả mênh mông”.

Ngày 19/2, hàng nghìn người dân tiễn đưa ông Võ Hiển Đạt – “ông đồ Hoàng Sa” duy nhất ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) về nơi yên nghỉ cuối cùng. Trong suốt cuộc đời của mình, ông Đạt liên tục mày mò, nghiên cứu học tập chữ Hán, cần mẫn sưu tầm nhiều tư liệu quý về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Từ lâu, ông được người dân địa phương trìu mến gọi là “ông Đồ Hoàng Sa”.

Trao đổi với PV chiều 19/2,Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Quảng Ngãi, nhận định ông Đạt là người sống rất mực thước, luôn sẵn sàng đem công sức của mình cống hiến cho huyện đảo Lý Sơn. Lúc nào ông cũng luôn tự hoàn thiện mình, ai góp ý kiến gì cũng sẵn sàng lắng nghe, sửa lại những điều thấy chưa hợp lý; luôn tự học, tự nghiên cứu tài liệu, sách vở mỗi ngày, nhất là trong kho sách, tài liệu chữ Hán, Nôm.

Tiến sĩ Vũ nhìn nhận, công lao lớn nhất của ông Đạt là trong suốt hơn 40 năm qua, nhất là khi di sản văn hóa cổ truyền được khuyến khích trùng tu, tôn tạo, phục hồi, trao truyền. Hầu hết di tích ở đảo Lý Sơn đều có bàn tay của ông góp vào như viết các hoành phi, liễn đối bằng Hán Nôm, vẽ các hoa văn, họa tiết; phục hồi các bài văn tế cổ, viết các bài văn tế mới…ở đình làng An Vĩnh, Âm Linh tự, các lăng Đông Hải, Nam Hải, các dinh Thiên Y A Na, chúa Ngọc…

Ông cũng là người có nhiều công sức trong việc phục dựng Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa tại Âm linh tự và sau đó là tại đình làng An Vĩnh từ năm 2005 đến nay, bao gồm các nghi lễ, văn tế, thuyền lễ, hình nhân thế mạng. Ngoài ra, ông còn phục dựng mô hình thuyền câu, là loại thuyền mà các binh phu đi Hoàng Sa sử dụng hàng trăm năm trước và mô hình ghe bầu – phương tiện người ven biển miền Trung dùng đi buôn khắp Bắc Nam trước năm 1945.

Theo Zing

Người gác Âm Linh Tự đã về với mây trắng biển xanh

Khi cụ Đạt trút lời gan ruột về biển, về câu chuyện trăm năm của những binh phu dong thuyền ra Hoàng Sa mãi mãi không về, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khoanh tay, cúi đầu nghe câu chuyện của cụ.

Cụ Đạt (phải) kể câu chuyện trăm năm cho nguyên chủ tịch nước Trương Tấn Sang nghe
Cụ Đạt (phải) kể câu chuyện trăm năm cho nguyên chủ tịch nước Trương Tấn Sang nghe

Vậy là cụ Võ Hiển Đạt đã thành người thiên cổ ở tuổi 85, sau 60 năm làm người gác Âm Linh Tự để giấc ngủ trăm năm của các bậc tiên hiền dong thuyền ra Hoàng Sa…

Vào tháng 2-2016, khi nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có chuyến thăm đảo Lý Sơn. Nơi đầu tiên của hòn đảo tiền tiêu mà vị nguyên thủ này đặt chân đến là Âm Linh Tự.

Và dĩ nhiên cụ Đạt là người đứng ra trút lời gan ruột về biển, về câu chuyện trăm năm của những binh phu dong thuyền ra Hoàng Sa đã mãi không về cho ông Sang nghe.

Hôm đó, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sau nén nhang kính cẩn đã khoanh tay, ghé tai để nghe câu chuyện từ cụ Đạt. Không phải ngẫu nhiên mà một nguyên thủ quốc gia dừng chân ở Âm Linh Tự hơn 30 phút.

Bởi ở đất đảo Lý Sơn có tư liệu nào liên quan đến chủ quyền của Hoàng Sa mà chưa qua tay cụ Đạt dịch và chính cụ là người am tường bậc nhất đảo về câu chuyện quá khứ này.

Những câu chuyện ấy, cụ Đạt cũng là người từng được nghe kể lại thôi, nhưng tính nóng bỏng, thời sự và quá khứ hiện tại xếp nối vào nhau khiến nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang không thể nào vội vã rời đi.

Âm Linh Tự, nơi cụ Đạt 60 năm gác giấc ngủ tiền nhân
Âm Linh Tự, nơi cụ Đạt 60 năm gác giấc ngủ tiền nhân

Từ chuyện lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa đến chiếc thuyền câu, ngôi mộ gió, hay tờ lệnh từ thời vua Minh Mạng điều binh phu ra Hoàng Sa được dòng họ Đặng ở đảo Lý Sơn gìn giữ gần 200 năm qua cụ Đạt đều am tường…

Vậy mà một năm sau ngày đó, cụ Đạt đã quay về nghìn năm. Thông tin cụ mất khiến ai cũng hụt hẫng. Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, giám đốc sở VH-TT-DL Quảng Ngãi bảo rằng cụ Đạt ra đi là tiếc nuối của không chỉ những người nghiên cứu văn hóa mà còn là nỗi buồn chung của những ai muốn nghe câu chuyện của Lý Sơn, của Hoàng Sa.

60 năm làm người gác Âm Linh Tự và khả năng am tường chữ nho, cơ hội tiếp cận với những bản sắc phong, tờ lệnh đã đưa cụ Đạt trở thành một kho tư liệu sống.

Ông Vũ nhớ cả bài văn tế của cụ Đạt năm 2010, đó là đợt mà những gì liên quan đến đội Hùng Binh Hoàng Sa thuở nào được chuyển về Đình làng An Vĩnh.

Bài văn tế có đoạn “Hỡi ơi, đất nước Việt Nam trải bao phen lao khổ. Nghĩ đến kẻ điêu linh từ thuở nọ. Chi hay sinh kề ký tử hề quy, ra đi có mấy người trở lại… xả thân vì Tổ quốc, son sắt một lòng, ngang dọc chí nam nhi.

Một nghi lễ được tổ chức ở Âm Linh Tự
Một nghi lễ được tổ chức ở Âm Linh Tự

Phong ba dồn dập, tuyết sương chẳng quản, mưa nắng chẳng sờn, Hoàng Sa lãnh hải biển cả mênh mông…”. Với ông Vũ bài văn tế ấy là ruột gan của một đời người nghe tiếng trăm năm vọng về từ phía biển.

Năm nay, lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa sẽ thiếu vắng đi một người quan trọng bậc nhất của đảo Lý Sơn.

May thay trước khi cụ Đạt mãi thành cổ nhân đã kịp phục dựng chiếc thuyền câu của binh phu, kịp tiếp cận và giới thiệu với cơ quan chuyên môn về những tài liệu lịch sử ở ngôi đình thiêng liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Cụ cũng kịp hướng dẫn hậu thế làm hình nhân thế mạng cho những người giã từ đời mình nơi biển cả… Có lẽ cụ Đạt cũng mãn nguyện mà an giấc trăm năm.

Nhưng có chăng, lần ra đi cuối cùng về thiên cổ, công việc còn dang dở của cụ Đạt là đi khắp đảo thống kê số miếu mạo cũ nơi còn ghi lại dấu tích của tiền nhân đã khai khá đảo Lý Sơn lập ấp, khai làng còn chưa xong thì cụ quy tiên…

Giữa biển xanh mây trắng, những cơn gió và mùi thơm của tỏi vào mùa sẽ đưa cụ về với tổ tiên. Tiễn biệt cụ.

Trần Mai

Tục cúng gà ngày xuân trên đảo Lý Sơn

Hàng chục nghìn con gà được chở ra đảo Lý Sơn trong nhiều ngày qua mới đủ cung cấp cho người dân làm lễ tạ ông bà trong dịp cuối năm và ngày đầu năm mới. Các chủ tàu mở biển đầu năm đều bưng mâm kê tới những lăng linh thiêng để tạ tổ tiên, khi ra tới đảo Hoàng Sa, Trường Sa, họ cúng tạ ông bà bằng một con gà.

Người dân đội mâm lễ gà đến các đình, miếu trong ngày xuân. Ảnh: Lê Văn
Người dân đội mâm lễ gà đến các đình, miếu trong ngày xuân. Ảnh: Lê Văn

Tại Âm linh tự và mộ lính Hoàng Sa, ngày đầu xuân được trang hoàng rực rỡ cờ, hoa. Trước Âm linh tự treo 17 lá cờ thần và 2 lá cờ Tổ quốc cắm trên đỉnh cao nhất. Cờ Tổ quốc được cắm ngay trước tấm bia khắc chữ “chiến sĩ trận vong” tưởng nhớ các binh phu Hoàng Sa. Ông Nguyễn Ry, Trưởng ban cai quản Âm linh tự nhìn lên lá cờ đang bay phần phật trong gió biển và cho biết: “Người dân ở đảo có con đi thi cũng tới nguyện xin, tàu thuyền mở biển thì tới tạ kê, người buôn bán thì xin mua may bán đắt”.

Theo phong tục của người dân đảo Lý Sơn, những người đến các miếu thờ và Âm linh tự trên đảo cúng tạ và nguyện xin thường mang theo một chai rượu nhỏ và một đĩa trầu cau, một xấp giấy bạc, người làm ăn buôn bán lớn thì cúng tạ con heo, còn chủ tàu thì nhất thiết phải cúng tạ gà. Có chủ tàu cúng 2 con, có chủ tàu cúng vài con tùy theo lòng thành và điều kiện của mình. Đầu năm khi đến miếu thờ khấn nguyện điều gì thì cuối năm phải trả vật phẩm đó chứ không thất hứa với lời nguyện của mình. Có những tàu cá từng gặp nạn trên biển thì cúng lớn hơn.

Ông Thanh, một ngư dân cho biết, lúc tàu hư, trôi tự do trên biển thì mình ra mũi khấn lạy ông bà cho anh em bình an, cuối năm chủ tàu sẽ cúng 3 heo hay 5 heo, tạ 5 con gà. Mình đã hứa thì cuối năm tổ chức cúng tạ. Ngư dân ở đảo rất tín ngưỡng và tin vào các thần linh ở miếu thờ. Đây cũng là chỗ dựa về tinh thần khi ngư dân đi biển xa.

Ở nhiều miền quê Việt đều có phong tục mâm cúng ông bà, tổ tiên trong ngày xuân phải có một con gà luộc. Vì theo quan niệm, gà thuộc nhóm tam sinh để hiến tế. Nhưng ở huyện đảo Lý Sơn, việc cúng tạ gà được các gia đình chuẩn bị công phu hơn nhiều. Ông Phạm Thoại Truyền, một người dân trên đảo cho biết, gia đình nào nghèo lắm thì mới mua 1 con, còn lại thì mua vài con gà để cúng tàu, cúng dinh, miếu, cúng trong gia đình. Ngày xuất hành đầu năm, người dân trên đảo cũng cúng gà, ra tới Hoàng Sa và trước khi đánh lưới tiếp tục cúng ông bà ở ngoài đó và xin độ cho con cháu may mắn, đánh bắt thuận lợi.

Theo lệ, từ tháng 9 đến những ngày áp Tết, các đình, miếu ở đảo Lý Sơn đều nghi ngút khói hương, phấp phới bóng cờ ngũ sắc. Các gia đình ở đảo Lý Sơn đến tạ lễ và cúng gà. Những ngày áp Tết, hàng chục nghìn con gà được đưa ra đảo để người dân mua về cúng tế. Có chuyến tàu vận chuyển vài chục lồng đựng gà ra đảo. Ngày đầu năm mới, gà tiếp tục được đưa ra đảo để phục vụ nhu cầu cúng tạ của các chủ tàu khi mở biển đầu xuân và ra Hoàng Sa tạ ông bà. Vào dịp Tết, gà trống tại đảo Lý Sơn có giá dao động khoảng 150.000 đồng/kg, nhưng gà có cặp giò đẹp thì giá cao hơn. Khi mua gà cúng, bà con trên đảo lựa chọn kỹ, đó phải là gà trống vàng mới biết gáy, có cặp giò đẹp, suôn, dài, không bị sứt sẹo. Vì khi gà luộc lên thì gia chủ sẽ xem giò để đoán vận hạn trong năm. Nếu cặp giò gà chúm đều, không hở, không nứt nẻ là điềm tốt.

Thời trước nhiều gia đình trên đảo còn mời thầy cúng đến xem giò. Nhưng đến nay, ai cũng có thể tự coi giò gà cho gia đình. Từ ngày 20 tháng Chạp, tất cả các gia đình đều dâng mâm gà đến các dinh, miếu trên đảo để cúng tạ, xin ông bà, tổ tiên phù hộ cho gia đình mạnh giỏi, tàu ra Hoàng Sa, Trường Sa đánh bắt thành công.

Lê Văn

Linh hồn Lý Sơn

Cả đời cụ Võ Hiển Đạt ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) gần như gắn liền Âm linh tự – ngôi đền liên quan đến đội hùng binh Hoàng Sa năm xưa. Nhiều người ví đảo Lý Sơn là “ngôi đền thiêng”, có chức năng kết nối người dân Việt với quá khứ bằng những ký ức về Hoàng Sa, và cụ Võ Hiển Đạt chính là một trong những linh hồn của “ngôi đền”ấy.

Lễ khao lề thế lính ở Lý Sơn (Ảnh: Thanh Hải)
Lễ khao lề thế lính ở Lý Sơn (Ảnh: Thanh Hải)

Ông đồ trên đảo

Là con trai duy nhất của một gia đình khá giả, mà theo cách nói của cụ Võ Hiển Đạt là “vừa chân đồng, vừa chân biển”, trong đó nghề biển là nghề chính, nên cụ Đạt may mắn được ăn học. Từ năm 8 tuổi, cụ đã theo học chữ Hán với các ông đồ trong làng.

Những con chữ thâm thúy tự bao giờ đã cuốn hút, đeo đuổi mãi, để rồi, ngay cả khi lấy vợ rồi có con, cụ vẫn tiếp tục nghiên cứu Hán tự, và trở thành “ông đồ” duy nhất ở huyện đảo Lý Sơn bây giờ. Người dân trên đảo hay trìu mến gọi cụ Đạt là “ông đồ Hoàng Sa”. Hiện tại, cụ Đạt đang sống cùng gia đình trong ngôi nhà cổ, do tổ tiên của cụ xây dựng cách đây gần 200 năm ở thôn Tây, xã An Vĩnh.

Đảo Lý Sơn nhỏ, chỉ chưa đầy 10km2, nhưng dày đặc các di tích đình, chùa, lăng, miếu, với nhiều di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh. Trong đó có hơn một nửa liên quan trực tiếp tới việc khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mỗi lần trùng tu đình làng, nhà thờ hay hệ thống nhà cổ, các tộc họ thường mời cụ Đạt – vốn nổi tiếng là người am hiểu Hán văn – tư vấn, giúp chạm, khắc chữ “thổi hồn” cho các di tích. Mỗi dịp tết đến xuân về, nhiều gia đình còn đến nhà cụ xin chữ để cầu mong bình an, phúc lộc thọ cho gia đình.

Khi nào có người nhờ cậy, cụ đều vui vẻ nhận lời mà không nhận một khoản thù lao nào. Khắp đảo này, những hoành phi, câu đối, liễn, khảm trong các tư gia, tộc họ, lăng miếu có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tri ân đội hùng binh Hoàng Sa, hay những thông điệp lưu lại cho đời sau, đều mang dấu ấn của cụ Đạt.

Ông Võ Văn Út – hậu duệ đời thứ 4 của cai đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết – chia sẻ: “Người dân trên đảo Lý Sơn rất kính trọng và quý mến cụ Đạt như người thầy. Cụ có công rất lớn trong việc tu sửa, khôi phục, gìn giữ di tích của hải đội Hoàng Sa trên đảo suốt nhiều năm qua”.

Mỗi dịp tháng 3 âm lịch về, Lý Sơn lại rộn ràng với Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Người dân trên đảo và những du khách tham dự lễ hội này lại được chiêm ngưỡng những thuyền câu được tái hiện và những linh vị ghi tên tuổi, quê quán của các binh phu ra đi Hoàng Sa, Trường Sa năm xưa không trở về, được viết nắn nót bằng chữ Hán do cụ Võ Hiển Đạt kỳ công phục dựng.

Để có được những mô hình thuyền câu và những linh vị trang trọng ấy, trong một lần được mời vẽ lại đôi liễn đối tại nhà thờ họ Nguyễn ở xã An Hải, cụ đã phát hiện mô hình chiếc thuyền câu của đội hùng binh Hoàng Sa vẽ trên giấy bản khổ lớn, đã ố màu thời gian được tộc này cất giữ cẩn thận. Cụ đã ghi chép tỉ mẩn hình dáng, kích thước, chất liệu để có thể phục dựng những kinh thuyền Hoàng Sa cho mỗi dịp lễ khao lề thế lính Hoàng Sa hằng năm.

Từ bản vẽ này, cụ Đạt đôn đáo khắp nơi tìm vật liệu trên đảo và một số địa phương ven biển ở đất liền, phục chế chiếc thuyền buồm của ông cha ta đã ra Biển Đông năm xưa. Lần đầu tiên chiếc thuyền câu của đội thủy binh Hoàng Sa được giới thiệu rộng rãi đến công chúng trong cả nước tại tuần lễ văn hóa biển đảo Quảng Ngãi. Hiện nay, tại Bảo tàng Quảng Ngãi và Bảo tàng Hải đội Hoàng Sa cũng trưng bày mô hình thuyền câu Hoàng Sa năm xưa do cụ Đạt phục dựng.

Cụ Đạt nói: “Tổ tiên mình năm xưa ra Hoàng Sa, Trường Sa bằng phương tiện gì, làm bằng chất liệu gì, đó là điều đã ám ảnh tôi nhiều năm trời. Đến khi nghỉ đi biển chuyển sang đóng thuyền buồm, tôi mới vỡ lẽ rằng, cha ông ta ngày xưa đóng thuyền theo mô hình của ngư dân vùng biển Trung Bộ, chất liệu chủ yếu vẫn là gỗ và tre. Sau nhiều tháng phục dựng, chỉnh sửa, tôi đã hoàn thành con thuyền và những hiện vật liên quan. Các nhà chuyên môn đã đánh giá cao mô hình phục chế này”.

Không muốn để mai một công việc làm sống lại lịch sử hào hùng của cha ông, hiện cụ Đạt đã kèm cặp và truyền nghề cho một số thanh niên trên đảo. Anh Phạm Văn Bổn – một trong những người học trò đó – đã tỏ ra xứng đáng với công sức của cụ.

Sau nhiều năm được cụ Đạt truyền dạy, anh Bổn đã có thể tự mình đóng được những chiếc thuyền câu phục vụ lễ hội. Anh kể: “Nhờ sự chuyên tâm truyền dạy của thầy mà anh em tôi đã tiến bộ rất nhanh. Năm nay chúng tôi đã đóng 10 chiếc phục vụ cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa”.

Và bảo tàng sống của quê hương Hải đội Hoàng Sa

Đến thăm Bảo tàng Hải đội Hoàng Sa ở huyện đảo Lý Sơn, nhiều người không khỏi trầm trồ thán phục bởi những dòng chữ Hán tinh xảo khắc trên quần thể tượng đài đội hùng binh do cụ Đạt góp sức: “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu” (tạm dịch: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa được xem là đặc biệt quan trọng) – Minh Mạng thứ 17 năm Bính Thân”.

Chính nhờ vốn chữ Hán uyên thâm mà cụ Đạt đã phát hiện ra nhiều chứng cứ về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam trên đảo Lý Sơn. Nhiều bậc cao niên trên đảo còn ví cụ Đạt là bảo tàng sống của quê hương đội hùng binh Hoàng Sa.

Ông Võ Xuân Huyện – Bí thư Huyện ủy Lý Sơn – cho biết: “Cụ Đạt có thể đọc và dịch được nhiều tư liệu, tài liệu chữ Hán mà các dòng họ trên đảo còn lưu giữ. Chính cụ đã phát hiện tờ lệnh Hoàng Sa mà tộc Đặng ở thôn Đồng Hộ cất giữ suốt 175 năm qua, từ đó có thêm được những chứng cứ khẳng định chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Đã ở vào tuổi ngoài 80, nhưng cụ Đạt vẫn khiến người ta phải nể phục không chỉ bởi vốn kiến thức uyên thâm, mà còn bởi một trí tuệ minh mẫn. Cụ có thể thuộc lòng và tỉ mỉ liệt kê hàng trăm chi tiết để có thể phục chế chiếc khinh thuyền của đội Hoàng Sa, hay sang sảng đọc những câu chữ trong tờ lệnh, cấp cho ông Đặng Văn Siểm, ban hành ngày 15.4 năm Minh Mệnh thứ 15, tức là năm Giáp Ngọ 1834, để điều động binh thuyền của các tộc họ trên đảo Lý Sơn đi Hoàng Sa thi hành nhiệm vụ.

Tờ lệnh có thể coi là “cuốn sổ đỏ” của cha ông ta về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nhiều thế kỷ trước. Điều đáng trân trọng hơn nữa, dù tuổi cao, cụ Đạt vẫn cần mẫn tìm những cứ liệu chứng minh hai quần đảo thiêng liêng này là thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, góp công, góp sức bảo tồn các di tích về Hải đội Hoàng Sa mới được xây dựng trên đảo cho con cháu đời sau.

Cứ vào dịp tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa hằng năm, cụ Đạt lại bận rộn lo toan với những linh vị, hình nhân thế mạng, mô hình thuyền câu. Có thể nói, cụ vẫn luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong nghi thức tế lễ có một không hai trên đất đảo này. Điều khiến cụ Đạt luôn trăn trở là bây giờ không có ai trên đảo Lý Sơn theo học chữ Hán, một trong những yếu tố cần thiết để sau này có thể trở thành người tiếp bước cụ giữ hồn nước ở Lý Sơn.

 

Danh Nguyễn

Khám phá Tết Âm Lịch trên Đảo Lý Sơn – Phần 1

Phần 1: Những Ngày Giáp Tết

“Thiên đường giữa biển khơi” là cái tên được đặt cho hòn đảo Lý Sơn xinh đẹp được mọi người biết đến là nơi du lịch lý tưởng với vẻ đẹp hoang sơ, những thắng cảnh kì vĩ, với di tích lịch sử xa xưa thời chúa Nguyễn, ngoài ra nơi đây còn được biết đến với những loại hải sản tươi sống siêu ngon và những món ăn đặc sản truyền thống không nơi nào có được.


Những ngày giáp Tết tôi có cơ hội trở lại hòn đảo thân thương này, chắc hẳn rất nhiều bạn khá tò mò liệu cái Tết đến với mọi người trên hòn đảo cách đất liền 15 hải lý này sẽ như thế nào, ra làm sao… Năm nay những ngày cuối năm trên đảo thời tiết không được thuận lợi nắng ấm như mọi năm, nhưng những hoạt động để chuẩn bị cho ngày tết vẫn đang hối hả diễn ra.

Phương tiện để kết nối lương thực, thực phẩm từ đất liền ra đảo chủ yếu là những chiếc phà gỗ trung bình với công suất gần 20 tấn này. Hàng hóa được các lái buôn mua từ khắp nơi trong đất liền chở đến cảng Sa Kỳ (Bình Sơn – Quảng Ngãi) sau đó được đưa lên những chiếc phà tiếp tục vượt biển với tốc độ 6 khoảng lý/giờ, hơn 2 tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển đầy hiểm nguy mới có thể mang cái Tết đến với mọi người dân trên đảo.

Ngoài những cái bông, cái hoa được vận chuyển từ đất liền ra, trên đảo cũng có những vườn hoa do người dân nơi đây trồng nên, quên đi điều kiện thời tiết khắc nghiệt trên đảo những cánh hoa ở đây cũng đẹp đáo để không kém gì nơi đất liền.

Công việc vận chuyển, bốc vác cuối năm rất bận rộn
Công việc vận chuyển, bốc vác cuối năm rất bận rộn

Vườn hoa Thược Dược trên Đảo
Vườn hoa Thược Dược trên Đảo
Nhà nhà bận rộn làm bánh Ít - Đặc sản của xứ Đảo
Nhà nhà bận rộn làm bánh Ít – Đặc sản của xứ Đảo

Ẩm thực nơi đây cũng là nhân tố quan trọng góp phần làm nên cái Tết cổ truyền đầy màu sắc, đặc trưng nhất là loại bánh được làm từ lá cây gai mà người dân nơi đây gọi với cái tên dân dã là “Bánh ít lá gai”. Để làm nên loại bánh này phải trải qua rất nhiều công đoạn, sau khi đã hái được lá gai mang về phải tước gân lá đề phòng lá bị gãy trong công đoạn gói bánh, sau đó mang phơi khô. Một chuỗi công đoạn tiếp theo sau khi phơi khô là đun nhừ lá gai, sau đó giã bằng cối đá cùng chung với gừng nướng, tiếp theo sau khi đã làm nhuyễn lá với gừng tiếp tục sử dụng nước đường phên được đun chảy đổ vào cối lá gai sau đó cho bột đều xung quanh hỗn hợp bánh rồi lại đem giã nhuyễn để cho những nguyên liệu được hòa trộn với nhau. Sau khi đã có được loại hỗn hợp bánh này công đoạn cuối cùng để tạo ra bánh ít là gói bánh bằng lá chuối phơi khô cùng với nhiều loại nhân, dừa, đậu phộng, đậu xanh… tùy theo sở thích gia đình, gói xong cho bánh vào nồi đun hơi chừng 2-3 tiếng là hoàn thành.

Các công việc điều làm thủ công
Các công việc điều làm thủ công
Tết mà không có bánh Ít thì cảm thấy không vui đối với mỗi người dân xứ Đảo
Tết mà không có bánh Ít thì cảm thấy không vui đối với mỗi người dân xứ Đảo
Những người con xa quê đang trên thuyền trở về Đảo
Những người con xa quê đang trên thuyền trở về Đảo

Cái Tết nơi xứ đảo xa xôi tuy mộc mạc, giản đơn là thế nhưng đây là nơi để nhung, để nhớ của nhiều người con quê hương mong mỏi để được quay lại mỗi khi Tết đến xuân về, hơn nữa nơi này vào ngày Tết thực sự là một nơi thú vị để du khách trải nghiệm và khám phá những văn hóa lễ hội lâu đời, những loại ẩm thực đầy sắc màu mà không nơi nào có được.

(còn tiếp…)

Kinh ngạc trước bộ xương “quái vật biển” của loài vật to như tàu ngầm ở Lý Sơn

Xương ngà (xương quai hàm) dài 4,7m, xương sườn dài 3,7m, đường kính đốt sống 0,41m, chiều ngang xương đầu 2,9m, chiều ngang xương rẻ quạt 1,6m…

Sau khi “buôn” đủ chuyện trên trời dưới biển với Thượng tá Nguyễn Công Danh, Trưởng Công an huyện đảo Lý Sơn, tôi chuyển đề tài sang truyền thuyết cá voi cứu người. Thượng tá Danh bảo, chuyện cá voi cứu người chẳng phải truyền thuyết, mà là sự thật, diễn ra thường xuyên ở hòn đảo mà gần 99% cuộc sống của người dân gắn với biển. Thượng tá Danh khuyên tôi nên đến các lăng thờ cá voi ở Lý Sơn để nghe các cụ kể chuyện loài cá mà họ tôn kính gọi là Ông, rất thú vị.

Tôi khoe rằng, vừa mới tận mắt bộ xương cá voi được cho là lớn nhất Việt Nam, không chừng lớn nhất Đông Nam Á ở dinh Vạn Thủy Tú, trong TP. Phan Thiết (Bình Thuận), Thượng tá Danh cười vui bảo: “So với bộ xương cá voi ở Lý Sơn, thì bộ xương cá voi ở Bình Thuận còn thuộc hạng em bé”. Tôi đã từng choáng ngợp và ngỡ ngàng trước bộ xương cá voi khổng lồ, dài tới 22m ở Bình Thuận, nên chưa tin lời Thượng tá Danh lắm. Thượng tá Danh khuyên tôi đi xem, rồi anh liên hệ giúp tôi.

Ban thờ cá Ông trong Lăng Tân
Ban thờ cá Ông trong Lăng Tân

Lý do phải nhờ đến Thượng tá Nguyễn Công Danh, Trưởng Công an huyện liên hệ mới được chiêm ngưỡng xương cốt cá voi là vì theo phong tục của người Lý Sơn, mỗi năm, chỉ có 2 ngày gồm 19 và 20 tháng Chạp (tháng 12 âm lịch), mới được mở hậu cung, tức phòng chứa cốt cá Ông phía sau gian thờ, để lau chùi bụi bặm bám trên cốt. Những ngày thường, mọi người chỉ được ở gian thờ bên ngoài hương khói, tuyệt đối không được mở hậu cung.

Lòng vòng qua những ruộng tỏi, những đụn cát trắng tinh, tôi tìm thấy Lăng Tân (xã An Vĩnh). Lăng Tân khá nhỏ, nằm tơ hơ ngay mép biển. Đứng bên lăng, nghe sóng biển vỗ bờ ì oạp. Có đầy đủ các cụ trong thành phần trông coi, hương khói cho lăng ngồi đợi, gồm cụ Nguyễn Phúc Hưởng – chủ tăng, cụ Ngô Xương – chủ cựu, cụ Nguyễn Phắng – chủ cựu và cụ Nguyễn Hải – thủ từ, người trông nom Lăng Tân hàng ngày.

Cụ Nguyễn Hải cám ơn nhà báo đã quan tâm, tìm hiểu về Ông, tuy nhiên, theo tục lệ, phải xin phép Ông trước. Nếu Ông đồng ý, thì mới được phép vào, còn Ông không đồng ý, thì chỉ có chờ đến ngày 19 và 20 tháng Chạp.

Bộ xương của một con cá mà chất đầy căn phòng rộng 30 mét vuông
Bộ xương của một con cá mà chất đầy căn phòng rộng 30 mét vuông

Nói rồi, cụ Nguyễn Hải chuẩn bị lễ vật, gồm trái cây, rượu, trầu cau đặt lên ban thờ. Tôi chắp tay thành kính khấn vái, kính cẩn mong Ông cho được diện kiến xương cốt. Ông Hải nêu tên tuổi của tôi để trình diện ngài, rồi lấy hai đồng xu thả vào cái đĩa nhỏ. Rất may là đồng sấp đồng ngửa, âm dương hòa hợp, có nghĩa là Ông đã “đồng ý”.

Ông Hải thắp đèn, rồi mở hậu cung dẫn tôi vào. Bộ xương cá voi được phủ kín bởi những tấm vải đỏ. Cụ Hải vừa trò chuyện với Ông, vừa nhẹ nhàng dọn những tấm vải phủ kín. Tôi thực sự choáng ngợp trước những khúc xương khổng lồ. Quả thực, nhìn những khúc xương này, tôi không nghĩ nó là xương cá, mà nghĩ nó là xương của loài khủng long vĩ đại từ xa xưa, hoặc của một loài quái vật ngoài hành tinh, chỉ có trong những câu truyện truyền thuyết giàu trí tưởng tượng.

Chiếc xương ngà dài 4,7m
Chiếc xương ngà dài 4,7m

Bộ xương được xếp gọn gàng, ngay ngắn trong một căn phòng hình chữ U. Xương đầu, xương hàm được xếp vào một gian. Giữa phòng xếp những chiếc xương sườn cong đều, dài miên man. Một góc xếp cả đống những đốt xương sống, xương sụn, xương vây, xương đuôi và những miếng xương nhỏ khác. Chỉ là bộ xương của một con cá mà chất đầy một gian phòng rộng chừng 30 mét vuông.

Ông Hải lấy thước dây đo một số mẩu xương điển hình. Vừa đo, ông Hải vừa đọc số liệu để tôi ghi chép: Xương ngà (xương quai hàm) dài 4,7m, xương sườn dài 3,7m, đường kính đốt sống 0,41m, chiều ngang xương đầu 2,9m, chiều ngang xương rẻ quạt 1,6m…

Trời ạ! Tôi tưởng tượng, với cái xương hàm dài gần 5m, dài hơn chiếc ô tô con hạng sang, nếu con cá voi này “chép miệng” một cái, hẳn nó xơi tái một chiếc… xe tải! Nếu nó há miệng căng hết quai hàm, một con tàu cỡ vừa gắn động cơ hơn trăm CV có khả năng chạy đến Hoàng Sa, Trường Sa cũng chui tuột vào bụng!

Những chiếc xương sườn cá voi ở Lăng Tân dài miên man, tới 3,7m
Những chiếc xương sườn cá voi ở Lăng Tân dài miên man, tới 3,7m

Tôi đã tận mắt bộ xương cá voi khổng lồ ở Bình Thuận, được sách kỷ lục Việt Nam công nhận lớn nhất nước, tuy nhiên, những số đo của bộ xương cá voi ở Bình Thuận vẫn còn kém xa con cá voi này. Theo đó, xương quai hàm của cá voi ở dinh Vạn Thủy Tú trong Bình Thuận chỉ dài 4,2m và xương sườn chỉ dài chưa đầy 3m.

Theo cụ Hồ Văn Tôn – Trưởng ban Quản lý di tích Vạn Thủy Tú, qua khảo sát, những người làm sách kỷ lục đã khẳng định, bộ xương cá voi ở Bình Thuận không những lớn nhất Việt Nam, mà còn lớn nhất Đông Nam Á. Bộ xương cá voi mà người Thái Lan vẫn tự hào lớn nhất Đông Nam Á, thực tế, chỉ dài có 15m, bộ xương ở Viện Hải Dương học (Nha Trang) cũng chỉ dài 15m, còn bộ xương ở Vạn Thủy Tú dài đúng 22m.

Tuy nhiên, theo các cụ trông nom, quản lý Lăng Tân, dựa vào số đo đốt xương sống và số đo các xương hàm, xương đầu, xương sườn, xương đuôi, thì Ông cá này phải dài cỡ 40m, tức là gần gấp đôi Ông cá ở Bình Thuận. Số liệu về chiều dài con cá này, cũng được ông Mai Giang – Trưởng phòng VH&TT huyện Lý Sơn phỏng đoán trong một đề án tham mưu cho huyện thực hiện dự án khôi phục và trưng bày bộ xương cá voi khổng lồ ở Lăng Tân. Theo đề án, để phục dựng được bộ xương, phải làm một hệ thống giá đỡ dài 40m.


Tôi trộm nghĩ, nếu con cá này dài bằng chục cái ôtô như thế, thì nó là quái vật khổng lồ của biển Đông, chứ không còn đơn thuần chỉ là con cá nữa. Theo tính toán của các ngư dân, với chiều dài như vậy, lúc còn sống, Ông cá này phải nặng trên 100 tấn.

Theo truyền thuyết, cách đây hơn 200 năm, Ông cá này đã cứu mạng rất nhiều ngư dân trên đảo. Xưa kia, người dân Lý Sơn vẫn cưỡi sóng ra tận Hoàng Sa đánh cá. Tàu thuyền khi đó không có động cơ, mà chỉ là thuyền buồm nên gặp bão tố giữa biển, coi như phó mạng cho biển khơi. Mỗi khi gặp nạn, ngư dân lại chắp tay khấn vái, gọi Ông đến cứu giúp. Như một sự thần kỳ, mỗi lần kêu Ông, chỉ trong tích tắc, Ông nổi lên từ biển cả dìu những kẻ gặp nạn vào bờ.

Theo lời kể của những người già, năm 1800, sau khi dìu một con tàu gặp bão vào đến bờ, Ông bị mắc kẹt rồi lụy. Người dân tin rằng, khi Ông vào bờ lụy, có nghĩa là Ông đi tu để tiếp tục bảo hộ cho ngư dân. Ngư dân Lý Sơn khi đó khóc thương Ông nhiều lắm. Họ làm đám tang, chôn cất Ông theo đúng lễ nghi, dựng miếu thờ, bốc cốt Ông vào đó rồi tôn kính gọi là Đồng Đình Đại Vương, thể hiện quyền uy bậc nhất trên biển Đông.

Đây là những mảnh xương cá hay phiến đá?
Đây là những mảnh xương cá hay phiến đá?

Cụ Nguyễn Hải vừa kéo tấm vải đỏ đắp cốt Ông vừa rưng rưng nói: “Ở Lý Sơn có nhiều lăng thờ cá Ông, nhưng Ông Nam Hải ở Lăng Tân là thiêng nhất. Ông bảo hộ cho ngư dân trong mỗi chuyến ra khơi được sóng yên bể lặng, bảo hộ cho mỗi con tàu cập bến được đầy cá tôm. Mỗi ngư dân khi ra biển, đều thắp hương khấn vái trong đền, hoặc thành kính cắm nhang trên mũi thuyền hướng về nơi thờ Ông sẽ được bình yên. Hàng trăm sự cố bất trắc đã được ông cứu giúp tai qua nạn khỏi”.

Mỗi khi có Ông Nam Hải lụy, tất cả ngư dân trên đảo Lý Sơn, tổng cộng 20.000 người, đều phải tham dự và tổ chức lễ tang như một đại lễ. Hiện ở Lý Sơn có cả trăm bộ xương cá voi với hơn chục lăng thờ, gồm Lăng Ông Nam Hải, Lăng Tân, Lăng Ông, Lăng Chánh, lăng Thứ, chùa Âm Hồn, Lăng Cồn… Người dân Lý Sơn tin rằng, Lý Sơn là đất lành, nên các Ông thường tìm vào để lụy và nhờ đó mà người Lý Sơn được hưởng phúc. Niềm tin vào cá Ông chính là linh hồn cho mỗi chuyến ra khơi, không những để kiếm sống, mà còn để khẳng định chủ quyền biển cả.

Phong Bình

Ký ức ngày xuân: Dựng nêu đón tết

Nhớ hồi nhỏ ở quê, ấn tượng của tôi về ngày tết cổ truyền là cây nêu dựng ở đình làng, các nhà thờ tộc hoặc những gia đình giàu có trong làng. Làng quê chưa có lầu cao nên ở xa cả cây số vẫn thấy cây nêu làng sừng sững.
dung-neu-ngay-tet-1

Nhìn cây nêu và lá cờ phướn tung bay trong gió, không chỉ biết năm mới đang đến mà còn rưng rưng nỗi niềm quê xứ…

Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức (cuốn Hạ): Bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc gọi là lên nêu… với ước nguyện cầu điềm lành cho năm mới và tránh những xấu xa trong năm cũ. Đến ngày mồng 7 tháng Giêng thì hạ nêu…
Như vậy trong phong tục đón tết xưa của tổ tiên, cây nêu là một biểu tượng khá quan trọng của mỗi nhà. Đón tết cổ truyền ngoài Bắc, cây nêu cũng là một trong 6 “món” không thể thiếu như đã ghi trong một câu đối cổ: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”.
Hồi học tiểu học, buổi học cuối năm cô giáo đọc chuyện cổ của Nguyễn Đổng Chi cho cả lớp nghe. Chuyện rằng: Tục trồng nêu là để ngăn trừ loài quỷ chiếm đất nước của con người. Con người chỉ làm thuê và nộp sản vật cho quỷ. Người phải cầu cứu đức Phật giúp đỡ. Phật bảo con người đừng trồng lúa mà trồng khoai lang nên quỷ chỉ hưởng lá và dây khoai theo phương thức “ăn ngọn cho gốc”.
Sang mùa sau quỷ lại chuyển qua phương thức “ăn gốc cho ngọn”. Phật lại dạy người trồng lúa, quỷ lại hỏng ăn nên tuyên bố “ăn cả gốc lẫn ngọn”. Phật bèn cho người giống cây bắp (ngô) để gieo trồng. Quỷ ăn cả “gốc lẫn ngọn” nên người được tất cả trái bắp mang về làm lương thực. Tức tối, quỷ lấy lại đất đai không cho người canh tác nữa…
Từ đó, hàng năm vào dịp tết là những ngày quỷ từ biển vào thăm đất liền thì người ta trồng cây nêu để quỷ không bén mảng đến chỗ người cư ngụ. Trên nêu có treo khánh đất, linh phong có tiếng động phát ra khi có gió để bọn quỷ tránh đi. Ngọn cây nêu còn buộc một bó lá dứa hoặc cành đa cho quỷ sợ. Người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía đông và rắc vôi bột xuống đất trước cửa ra vào trong những ngày tết để cấm cửa loài quỷ…
Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch là ngày đưa ông Táo về trời. Truyền thuyết cho rằng từ ngày này ma quỷ thường nhân cơ hội này về quấy nhiễu. Từ lễ dựng nêu cho đến ngày hạ nêu vào ngày mồng 7 tháng giêng. Lễ thượng nêu phải có bàn cúng trang nghiêm để cầu mưa thuận gió hòa, tổ tiên độ trì cho con cháu…
huyện đảo Lý Sơn, nêu được dựng lúc nửa đêm 23 tháng Chạp, tại Âm Linh Tự, bên cạnh đình cổ xã An Hải, là nơi thờ phụng các bậc tiền nhân anh dũng hi sinh khi tự nguyện gia nhập đội hùng binh Hoàng Sa hàng trăm năm trước. Cây nêu đảo Lý Sơn có gắn biểu tượng con chim công, theo tín ngưỡng dân gian miền biển là để đuổi yêu trừ ma quỹ: Một lá cờ hội mang ý nghĩa “Nghinh xuân – mộc điểu – thượng kỳ” bên cạnh lá cờ Tổ quốc. “Biểu tượng con chim công được treo trên thân cây nêu với hi vọng xua đi những gì kém may mắn, cầu trời yên biển lặng để có một năm mới an cư lạc nghiệp, gọi là Nhất điểu…”, một bô lão ở Lý Sơn giải thích.
dung-neu-ngay-tet-2
Tại đô thị cổ Hội An, cây nêu ngày tết năm nào cũng có ở nhiều đình làng. Từ sáu năm nay, hội thi dựng nêu để thu hút du khách và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ đã được tổ chức do một ban “Phục dựng cây nêu ngày tết kết hợp nghệ thuật sắp đặt lồng đèn” thuộc Trung tâm Quản lý và bảo tồn di sản chủ trì. Nêu dựng nêu từ 29 tháng Chạp đến mồng 7 tháng Giêng tại gần 50 địa điểm là các di tích, đình, miếu, nhà thờ tộc, cơ quan, đơn vị.
Trên cây nêu có cờ hội vuông cỡ lớn (loại cờ ngũ hành, giữa lòng màu đỏ hoặc vàng, diềm ngoài màu xanh hoặc màu tím sậm) được treo bên dưới tán lá của cây tre. Cờ hội có hình vuông cạnh 1,15m hoặc 1,3m. Treo cùng với cờ hội là lá phướn, ngày xưa phướn được làm bằng giấy, bên trên viết tên các vị thần chủ quản trong năm được thiên đình phái xuống như Hành Khiến, Hành Binh, Thái Tuế…
Ngày nay, lá phướn có thể được thay thế bằng vải màu đỏ có nội dung mang ý nghĩa tốt đẹp, mừng năm mới, cầu quốc thái dân an… Trên cây nêu ở Hội An còn nơi còn treo thêm một tấm vỉ hình ô vuông được đan bằng nan tre gồm 4 nan dọc và 5 nan ngang biểu tượng cho “tứ tung ngũ hành”…
Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phục dựng cây nêu giữa bầu trời là để cầu may mắn, bỏ qua những điều muộn phiền, những hơn thua tranh giành trong cuộc sống và hòa lòng cùng thiên nhiên đất trời. Cây nêu ngày Tết vì vậy mang ý nghĩa “tống cựu nghinh tân”…
Với ý nghĩa đó, nhiều nơi đã khôi phục lại cây nêu với một thân cây tre thẳng, còn nguyên ngọn, gốc rễ được dựng ở khoảng đất trống; dưới ngọn tre được buộc một dải vải điều có ghi những lời cầu nguyện hoặc lời chúc năm mới bằng quốc ngữ. Một cái giỏ tre đựng cau trầu rượu và các phẩm vật khác theo phong tục từng vùng miền. Cây tre biểu tượng cho sức mạnh và tâm hồn VN, vững vàng trong mưa gió, giông bão…

Trương Điện Thắng